VĐV quốc tịch Canada, người phá vỡ trên 70 kỷ lục chạy bộ và làm thay đổi nhận định về sức bền của con người ở tuổi cao niên, qua đời hôm thứ Hai ở thành phố Toronto, không xa nơi ông cư trú ở Milton, Ontario. Ông hưởng thọ 86 tuổi. Một nguồn tin từ gia đình cho biết nguyên nhân cái chết là bệnh ung thư tuyến tiền liệt.

Năm 2003, ở tuổi 72, Whitlock trở thành người đầu tiên trên 70 tuổi chạy marathon dưới 3 giờ, chính xác là 2:59:19 ở giải Toronto Waterfront Marathon. Một năm sau đó, ở tuổi 73, ông lại phá vỡ kỷ lục của chính mình khi lập thành tích 2:54:49. Những năm sau đó, ông tạo dấu ấn ở các nhóm tuổi 70+, 75+, 80+, và 85+ ở các cự ly từ 1500 mét cho đến FM. Tháng 10 năm ngoái, ở tuổi 85, ông chạy 3:56:33 ở giải Toronto Marathon, trở thành người đầu tiên trong nhóm tuổi của ông chạy dưới 4 giờ và giảm kỷ lục trước đó đến 28 phút.
Whitlock được biết đến bởi bản chất khiêm tốn và giản dị. Có lần ông tâm sự với tạp chí Running Times, “Tôi không biết nói gì với những người cho tôi là niềm cảm hứng của họ. Biết nói gì đây? Tôi đâu có phải là người truyền cảm hứng.” Tuy nhiên có vô số runners, những cổ động viên của ông ở từng cuộc đua, thì không đồng ý với phát biểu đó.
Về tính giản dị, Whitlock luyện tập cung đường chạy 5 phút vòng quanh nghĩa trang Milton Evergreen gần nhà ông. Khi được hỏi tại sao lại chọn cung đường này để luyện tập có khi dài đến 4 tiếng, Whitlock đáp, “Tôi không thích chạy quanh cái vòng tròn nhỏ ngày qua ngày, nhưng nhìn nhận sự viêc một cách tổng thể thì nó thích hợp với tôi. Nếu gặp ngày gió to, tôi không phải chạy ngược gió quá lâu. Nếu gặp sự cố gì thì tôi có thể về nhà ngay tức thì. Trên thế giới này không có gì là hoàn hảo.”
Đối với những VĐV lớn tuổi mới làm quen với chạy bộ thì Whitlock là đề tài say mê bất tận. Luyện tập của ông chỉ bao gồm các bài tập mà ông gọi là bước đi nặng nề, nhưng thường phải tập hàng giờ. Trước khi lập thành tích 2:54 ở tuổi 73, ông chạy nhiều bài 3 tiếng mỗi tuần. Thậm chí với những bài chạy mà ông gọi là nặng nề đó, ông tích lũy hơn 100 miles mỗi tuần. Khi muốn chạy dưới 4 tiếng ở giải Toronto Marathon vào mùa Thu năm ngoái, ông bắt đầu nhiều bài chạy 4 tiếng.
Whitlock cũng không tuân theo các quy tắc, đặc biệt là những quy tắc cho dân chạy bộ cao niên, khi thực hiện các hoạt động ngoài chạy bộ. Ông không căng cơ, không luyện tập sức mạnh, không tập bổ trợ (cross training). Khi bị chấn thương, ông ngừng chạy cho đến khi cảm thấy có thể trở lại luyện tập với cường độ cao. Ông không theo một chế độ dinh dưỡng đặc biệt nào hết, chỉ ăn cho đủ để giữ trọng lượng cơ thể. Whitlock chạy với đôi giày cũ kỹ mà ông thắng được ở các giải đua hay các đôi giày ông được tặng; ông kể rằng đôi giày mà ông mang khi chạy dưới 4 tiếng ở Toronto được 15 tuổi.
Lúc chạy marathon ở cuối đời là lần thứ ba mà ông trở thành runner. Ông chạy với thành tích 4:31/mile (2:48/km) hồi còn trung học ở bên Anh và có lần đánh bại Gordon Pirie, người sau này giữ kỹ lục thế giới. Lên đại học ông chạy ít đi vì bị chấn thương gân chân Achilles, và bỏ chạy bộ khi dọn sang định cư ở Ontario lúc 21 tuổi và làm kỹ sư thợ mỏ. Ông trở lại chạy bộ ở tuổi 41 và trở thành VĐV trung niên (master) đẳng cấp quốc tế ở các cự ly 800m và 1500m. Sau khi đạt danh hiệu vô địch cự ly 1500m của master năm 1979 ông lại mất động cơ luyện tập, và một lần nữa bỏ chạy.
Sau khi nghỉ hưu, Whitlock chạy bộ trở lại để khuyến khích các con trai. Theo ông tâm sự, “Ở cuối tuổi 60, tôi nhận ra rằng mục tiêu vớ vẩn là trở thành người trên 70 tuổi chạy marathon dưới 3 giờ đang ngồi đó và chờ người đến lấy. Tôi nghĩ là việc này đã xảy ra lâu rồi chứ, nhưng tại sao chưa ai lấy, vì thế tôi nghĩ là tôi sẽ cố gắng là người làm chuyện này.”
Dưới đây là các kỷ lục theo lứa tuổi của Ed Whitlock ở các cự ly 5K, HM, và FM
5KM:
Age Time
65 17:24
66 17:24
67 17:23
68 17:39
69 17:34
72 18:32
73 18:21
74 19:05
75 18:45
21KM:
Age Time
68 1:20:33
69 1:20:14
70 1:22:33
72 1:28:37
73 1:28:02
76 1:29:26
78 1:37:38
79 1:34:26
81 1:38:59
83 1:46:12
85 1:50:47
42KM:
Age Time
68 2:51:02
69 2:52:50
70 3:00:23
72 2:59:09
73 2:54:48
74 2:58:40
75 3:08:34
76 3:04:53
80 3:15:54
81 3:30:28
82 3:41:58
85 3:56:33
Người biên dịch Vu Bruce
(dựa theo bài viết của Scott Douglas, Runner’s World)
