Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu tại Viện huyết học và truyền máu Trung ương, hội chứng rối loạn sinh tủy chiếm 4,5%, đứng hàng thứ 6 trong tổng số các bệnh về máu gặp tại Viện. Bệnh có thể là nguyên phát hoặc thứ phát (xuất hiện sau khi điều trị một bệnh khác).

Bệnh rối loạn sinh tủy cũng đã lấy sinh mạng của nhiều người
Hội chứng rối loạn sinh tủy (Myelodysplastic- MDS) là một bệnh ảnh hưởng đến tủy xương và các tế bào máu mà nó tạo ra.
Tủy xương sẽ tạo nên các dạng khác nhau của tế bào máu:
– Các tế bào máu đỏ (hồng cầu), nguồn cung cấp oxy thích hợp để các cơ quan và các mô hoạt động.
– Tế bào máu trắng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch.
– Tiểu cầu, giúp máu đông.
Tủy xương cần để sản xuất số lượng thích hợp của các tế bào. Và các tế bào cần phải có các hình dạng và chức năng thích hợp. Ở những người bị hội chứng MDS, tủy xương không hoạt động đúng. Nó sản xuất số lượng thấp của các tế bào máu hay tế bào máu bị lỗi.
Hội chứng MDS có thể biến thành bệnh bạch cầu myeloid cấp tính (một dạng của ung thư).
Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh rối loạn sinh tủy?
Mỗi năm có khoảng 12.000 người Mỹ phát triển các loại khác nhau của bệnh rối loạn sinh tủy. Tại Việt Nam, theo một nghiên cứu tại Viện huyết học và truyền máu Trung ương, hội chứng rối loạn sinh tủy chiếm 4,5%, đứng hàng thứ 6 trong tổng số các bệnh về máu gặp tại Viện. Bệnh có thể là nguyên phát hoặc thứ phát (xuất hiện sau khi điều trị một bệnh khác).
Những rủi ro từ bệnh này cũng tăng theo tuổi tác.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ của bệnh, bao gồm:
Điều trị ung thư: Việc sử dụng các loại thuốc hóa trị trong điều trị bệnh ung thư. MDS có thể có nhiều khả năng xảy ra sau khi điều trị bệnh bạch cầu lymphocytic cấp tính ở trẻ em, bệnh ung thư Hodgkin, u lymphô Hodgkin.
Thuốc chống ung thư có liên quan đến hội chứng MDS bao gồm:
– Leukeran (chlorambucil)
– Cytoxan (cyclophosphamide)
– Adriamycin (doxorubicin)
– Etopophos (etoposide)
– Ifex (ifosfamide)
– Mustargen (mechlorethamine)
– Alkeran (melphalan)
– Matulane (procarbazine)
– Vumon (teniposide).
Di truyền: Yếu tố này bao gồm những nguyên nhân:
– Thiếu máu fanconi (là bệnh di truyền lặn do đột bến gen làm rối loạn đứt gãy nhiễm sắc thể dẫn tới suy tủy và tăng nguy cơ ung thư). Trong điều kiện này, tủy xương không hoàn thành nhiệm vụ tạo nguyên liệu hình thành ba loại tế bào máu đỏ, trắng và tiểu cầu.
– Hội chứng Shwachman-Diamond (SDS). Tủy xương không tạo đủ lượng tế bào máu trắng cho cơ thể.
– Giảm bạch cầu bẩm sinh nghiêm trọng. Tình trạng này được đánh dấu bởi việc thiếu một lượng bạch cầu đáng kể, khiến cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn.
– Tiếp xúc với hóa chất. Bạn có thể có nhiều khả năng để phát triển hội chứng MDS nếu bạn đang tiếp xúc với các hóa chất công nghiệp nhất định trong một khoảng thời gian dài.
Hút thuốc cũng làm tăng nguy cơ mắc MDS.
Dấu hiệu nhận biết
Thông thường, hội chứng MDS không có những triệu chứng sớm, nhưng ảnh hưởng của nó trên các tế bào máu có thể gây ra các dấu hiệu cảnh báo, bao gồm:
– Mệt mỏi. Đây là một triệu chứng phổ biến do thiếu các tế bào máu đỏ.
– Chảy máu bất thường.
– Vết bầm tím và vết đỏ nhỏ xíu dưới da.
– Tái xanh.
– Khó thở trong khi hoạt động thể chất.
Chẩn đoán bệnh MDS
Để chẩn đoán về bệnh MDS, bác sĩ có thể sẽ thực hiện những bước sau đây:
– Hỏi bạn về các triệu chứng và lịch sử của các vấn đề sức khỏe khác.
– Thực hiện bài kiểm tra vật lý để kiểm tra nguyên nhân khác gây nên triệu chứng của bạn.
– Lấy mẫu máu để kiểm tra.
– Lấy một mẫu tủy xương để phân tích.
– Tiến hành phân tích di truyền của tế bào từ tủy xương.
Điều trị bệnh
Các bước bác sĩ sử dụng để điều trị hội chứng MDS sẽ phụ thuộc một phần vào hiện trạng của bệnh. Phương pháp điều trị bao gồm:
– Thuốc hóa trị liệu cũng được sử dụng để điều trị bệnh bạch cầu.
– Sử dụng thuốc có tác dụng lên hệ thống miễn dịch.
– Các yếu tố khuyến khích tủy xương để tạo các tế bào máu.
– Truyền máu.
– Thuốc kháng sinh để chống nhiễm trùng, nếu cần thiết.
– Ghép tế bào gốc được xem là cách điều trị hiệu quả nhất hiện nay có khả năng chữa khỏi hội chứng MDS.
